http://thichdapxe.blogspot.com

Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2015

ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ


Năm 1697 niên hiệu Chính Hòa đời vua Lê Hy Tông (1663-1716) , lần đầu tiên bộ Quốc sử Việt Nam được khắc in và phát hành thành công sau nhiều lần được các sử gia qua từng triều đại biên soạn và bổ sung .
                               
Vào đời vua Trần Thái Tông ( 1218-1277), sử gia Lê Văn Hưu vâng mệnh nhà vua thu thập và biên soạn thành công bộ quốc sử đầu tiên của nước ta lấy tên là  Đại Việt Sử Ký. Tuy vậy bộ sách này khi hoàn thành xong không được khắc in và sau này bị thất lạc có thể trong thời kỳ nhà Minh đô hộ đã bị thu giữ và mang về trung quốc .
Bộ sách Đại Việt sử ký của sử gia Lê Văn Hưu được ghi bắt đầu từ thời Triệu Vũ Đế ( Triệu Đà ) năm 207 TCN đến hết năm 1225 thời Lý Chiêu Hoàng.
Sau đó dưới đời vua Lê Nhân Tông (1441-1459) sử gia Phan Phu Tiên được giao nhiệm vụ biên soạn tiếp lịch sử từ đầu thời trần 1226-1427 thời điểm kết thúc Bắc thuộc lần 4.
Vào niên hiệu Hồng Đức năm thứ 10 sử gia Ngô Sỹ Liên vâng mệnh vua Lê Thánh Tông ( 1442-1497) tiếp tục sưu tầm sử cũ và biên soạn bộ Quốc sử mới hoàn thành vào ngày 13 tháng 12 năm 1479 . Bộ Quốc sử mới có tên là Đại Việt sử ký toàn thư ,mặc dù bộ sử mới biên soạn dựa trên hai bộ sử cũ là Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên .Nhưng  một điểm đặc biệt của bộ Quốc sử lần này là thời điểm bắt đầu của nước ta được tính từ năm 2879 TCN( thời đại Hồng Bàng) cho đến năm giặc Minh rút về nước 1427 . Tuy nhiên bộ Quốc sử này mặc dù đã hoàn thành nhưng vẫn nằm trong sử quán dưới dạng viết tay mà không được khắc in.
Đại Việt sử ký toàn thư của sử gia Ngô Sỹ Liên được chia làm 2 phần:
Phần ngoại kỹ từ thời Hồng Bàng 2879 đến năm 938 khi Ngô Quyền ( 898-944) đại phá quân Nam Hán
Phần bản kỷ từ 938 đến hết năm 1427 khi giặc Minh rút về nước kết thúc thời kỳ bắc thuộc lần 4 . Cộng tất cả gồm 15 quyển .
Dưới thời vua Lê Tương Dực (1495-1516) sử gia Vũ Quỳnh soạn bộ Đại Việt thông giám thông khảo mà nội dung chủ yếu dựa trên bộ Đại Việt sử ký toàn thư chỉ khác một chút về cách chia phần Ngoại kỹ và Bản kỹ và thời kỳ thuộc Minh.Nếu như Ngô Sỹ Liên cho thời kỳ thuộc Minh lần 4 bắt đầu từ năm 1414 đến 1427 thì Vũ Quỳnh lại tính kỳ này bắt đầu từ năm 1414 đến năm 1418 tức là chỉ 4 năm vì ông cho rằng năm 1418 Lê Lợi đã dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn.
Đến đời vua Lê Huyền Tông ( 1654-1671) một  nhóm văn quan  đứng đầu là Phạm Công Trứ theo lệnh của chúa Trịnh Tạc (1606-1682) khởi động lại việc biên soạn và khảo đính bộ sử cũ hoàn thành bộ chính sử mới của nước Đại Việt.
Bộ Đại Việt sử ký toàn thư do nhóm Phạm Công Trứ biên soạn dựa trên bộ Đại việt sử ký toàn thư và tam triều bản kỹ  của sử gia Ngô Sỹ Liên cùng bộ sử và sách tứ triều bản kỹ của Vũ Quỳnh, vì các bộ sử trước đây đều dừng lại ở thời điểm năm 1428,cùng với việc sưu tầm tham khảo các sách cũ còn sót và lưu hành trong dân gian như cuốn “Dã sử của Đăng Bính” , sau đó biên soạn tiếp lịch sử dài thêm 235 năm từ 1533 đời vua Lê Trang Tông đến năm 1662 cuối đời vua Lê Thần Tông.
Bộ quốc sử mới hoàn thành vào năm thứ 3 niên hiệu Cảnh Trị 1665 dưới đời vua Lê Huyền Tông và chúa Trịnh Tạc. Bộ quốc sử của sử gia Ngô Sỹ Liên được gọi là Đại Việt sử ký toàn thư bản Hồng Đức,còn bộ quốc sử của nhóm Phạm Công Trứ là Đại Việt sử ký toàn thư bản Cảnh Trị.
Bộ Đại Việt sử ký toàn thư bản Cảnh Trị cũng chia làm 2 phần : phần ngoại kỹ và bản kỹ .Nhưng có một điểm khác, thời đại Hồng Bàng được tính cho đến hết năm 967khi Đinh Tiên Hoàng thống nhất đất nước (tiếp thu cách chia của Vũ Quỳnh).Phần bản kỹ bắt đầu từ năm 968 đến năm 1662 được chia làm 3 phần :
Bản kỹ toàn thư: từ năm 968 nhà Đinh thành lập đến hết năm 1433 hết đời vua Lê Thái Tổ.
Bản kỹ thực lục: từ năm 1434 đời vua Lê Thái Tông đến khi nhà Lê sơ sụp đổ 1527.
Từ năm 1527đến năm 1532 triều đại nhà Mạc được ghi chép như là phần phụ chép lịch sử.
Bản kỹ tục biên : từ năm 1533 đời vua Lê Trang Tông đến hết năm 1662 đời Lê Thần Tông .
Tổng cộng 23 quyển và một điều kỳ lạ là tuy đã soạn xong nhưng vẫn không được khắc in mà bản thảo của nó vẫn nằm trong kho sách của triều đình.
Năm 1676 Phạm Công trứ mất công việc soạn sử được giao cho Hồ Sỹ Dương ,năm 1681 Hồ Sỹ Dương mất . Để viết tiếp dòng chảy của lịch sử vua Lê chúa Trịnh đương thời đã giao tiếp công việc này cho nhóm văn thần của triều đình đứng đầu là Lê Hy.
Sau thời gian hiệu đính bộ Quốc sử của nhóm Phạm Công Trứ và soạn tiếp lịch sử từ năm 1663 đời vua Lê Huyền Tông đến hết năm 1675 đời vua Lê Gia Tông  gồm 13 quyển.
Ngày 13 tháng 12 năm 1697 bộ Quốc sử đầu tiên của nước Đại Việt chính thức được hoàn thành , lịch sử nước Đại Việt khởi đầu từ thời Hồng Bàng năm 2879 TCN đến năm 1675 đời vua Lê Gia Tông và bộ sử mới vẫn được mang tên là Đại Việt sử ký toàn thư ( bản Chính Hòa) gồm 24 quyển. Cùng năm đó 1697 vua Lê Chúa Trịnh đã cho khắc bản in tại 2 làng là Hồng lục và Liễu Trang và phát hành trong toàn quốc. Vào cuối thế kỹ 18 khi triều đình Hậu Lê sụp đổ toàn bộ ván khắc in đã bị thất lạc.

Để những sự việc , con người được ghi chép trong lịch sử nước Đại Việt mang tính chất trung thực.khách quan các sử gia đã dày công sưu tầm tài liệu hiệu đính cũng như thời điểm lịch sử được ghi chép  chỉ dừng ở cuối triều đại trước. Những sự kiện xảy ra trong triều đại mà các sử gia đang sống chỉ  là những sách vở  mang tính chất tham khảo để hậu thế hiệu đính và viết tiếp vào dòng chảy lịch sử nước nhà.
BIA KHẮC GHI CÔNG LAO CỦA SỬ GIA LÊ VĂN HƯU TỪ THỜI VUA TỰ ĐỨC NĂM THỨ 20
  TOÀN CẢNH KHU LĂNG MỘ NHÀ SỬ HỌC LÊ VĂN HƯU ĐƯỢC TÔN TẠO NĂM 2005

Thứ Ba, 10 tháng 11, 2015

BÍ ẨN NGÔI ĐỀN CỔ HAY CHUYỆN TÌNH BÊN DÒNG LÃNG GIANG

 
Đền Mưng có vị trí và khuôn viên rất đẹp,nằm bên bờ sông Lãng Giang,đền còn có tên là Đền Năm Cậu. theo sử củ chép thì đền Mưng thờ ông Lê Ngọc (Lê Cốc) và bốn người con cùng dân Nông Cống ,Triệu Sơn,Đông Sơn và Quảng Xương chống lại sự đô hộ của nhà Đường .Chuyện về khởi nghĩa của cha con ông Lê Ngọc và các ngôi đền thờ quanh vùng là cả một câu chuyện dài,xin khất lần sau ,Tiều Phu chỉ xin thuật lại câu chuyện tình 70 năm về trước của ông lão trong làng có liên quan đến ngôi đền Mưng kỳ bí.
Cứ vào tháng 2 âm lịch hàng năm người dân làng Mưng (nay là làng Côn Minh) lại nô nức trẩy hội đền Mưng , các cô thôn nữ lại mớ ba mớ bảy quần áo xênh xang ngày hội bê những khay Trầu têm cánh phượng và hoa quả lên Đền.Các chàng trai lực điền to khỏe khiêng kiệu rước lễ vật từ đền vua Bà (xã Tế Tân)theo dòng Lãng Giang về đền Mưng tế lễ .
Trong đám xuân xanh ấy có cô Đào đẹp người đẹp nết con nhà gia giáo bên hửu ngạn dòng Lãng Giang đã đem lòng yêu chàng trai tá điền khỏe mạnh ,nhà bên tả ngạn với đức tính hay giúp những nhà trong chòm xóm sửa lại nhà cửa đồ dùng nên được nhiều người yêu mến.Cho dù là những đêm hè lộng gió hay những đêm đông rét lạnh thấu xương ,chàng trai tá điền vẫn đội quần áo lên đầu lao mình xuống dòng Lãng Giang vì biết rằng ở bên kia sông có người đang mong đợi.
Nhưng thật éo le cho mối tình của họ , gia đình cô gái đã không cho cô thuận theo ý muốn mà lại nhận lễ dạm hỏi và bắt cô phải cưới một chàng trai quý tử con nhà giầu có trên tỉnh.Từ đó những lần gặp nhau của cô gái và anh tá điền luôn thấm đẫm nước mắt,và rồi vào một đêm buồn bả bên Giếng vuông cạnh ngôi đền hai người quyết định quyên sinh.
Đúng vào thời khắc quyết định bổng nghe có tiếng của ông Từ trông coi đền
-         Sao các con không vào thắp hương và dâng lời cầu khẩn cho các đấng Thần linh trong đền.
Nghe theo lời ông Từ ,đôi trai gái cùng nhau vào dâng hương nguyện cầu .Đêm hôm đó về nhà cô gái mơ một giấc mơ thật kỳ lạ,sáng ra cứ theo lời nghe được trong giấc mơ cô gái thưa với cha mẹ.Cô xin với cha mẹ cho cô cùng anh chàng quý tử và anh Tá điền cùng vào thắp hương trên bàn thờ của đền Mưng ,nếu cô thắp hương cùng với người nào mà tàn hương không rụng và cong lại thì cô xin lấy người đó làm chồng , nếu không được như vậy cô sẽ gieo mình xuống dòng Lãng Giang .
Phần vì sợ con gái tính quẩn làm liều phần vì biết đền Mưng nổi tiếng linh thiêng nên cha mẹ cô đồng ý. Để kế hoạch của mình được như ý , cha mẹ cô gái đã cùng với chàng quý tử đi tìm mua cho bằng được loại hương tốt nhất và đảm bảo là tàn hương phải có độ kết dính tối đa.Sau khi chuẩn bị xong cha mẹ cô gái báo cho ông Từ về ước nguyện của con gái ,ông Từ đồng ý nhưng bảo để ông chọn ngày tôt rồi sẽ báo cho gia đình.
Mấy ngày sau vào một đêm hè gió nồm nam hây hẩy ông Từ cho phép ba người vào thắm hương dưới sự chứng kiến của gia đình cô gái .Và Lạ kỳ thay cho dù hương của anh chàng quý tử nổi tiếng là quý hiếm và cực tốt nhưng tàn hương cháy đến đâu đều rơi rụng lả tả ,que hương được thắp từ tay của anh tá điền và cô gái tàn hương cong hình vòng cung xoắn xuýt bên nhau.
Mấy tháng sau họ làm đám cưới ,một năm sau ông Từ coi đền lâm bệnh nặng khi hai vợ chồng anh Tá điền đến thăm ông ,ra hiệu cho anh Tá điền sát lại bên ông khẻ nói.
-         Con có biết vì sao que Hương của chàng quý tử kia rất tốt mà tàn lại bị rụng còn Hương của con lại không bị như vậy.
-         Dạ là do thần linh phụ hộ các con.
Đưa ánh mắt nhìn ra xa xăm tiếng ông khe khẽ.
-         Các vị thần linh là một thế lực siêu nhiên sự phù hộ của họ là một điều bí hiểm không hiện hửu,chỉ có lòng tốt và những việc làm ý nghĩa của các con với xóm làng ,với đồng loại đã đem lại hạnh phúc cho các con , hãy ra ngôi đền nhìn vào cánh cửa sổ hướng phía nam con sẽ hiểu rõ sự tình.

Đứng tần ngần bên cửa sổ của ngôi đền gió thổi bay tóc anh chàng Tá điền chợt nhận ra sự tình , khi công việc thắp hương được tiến hành ông Từ đã bí mật đi ra hồi nhà và điều khiển cánh cửa sổ mở ra khi chàng quý tử thắp hương và đến khi anh Tá điền thì ông làm ngược lại ,đóng kín cửa ,thật tài tình.
ĐỀN TỌA LẠC TRÊN MỘT KHUÔN VIÊN RẤT ĐẸP
VÀ RỢP MÁT BÓNG CÂY
VÀ CÁI GIẾNG VUÔNG ĐỘC ĐÁO

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2015

CHUYỆN KỲ QUÁI Ở NGÔI ĐỀN LÀNG THỔ YÊN

 
Làng Thổ Yên và làng Giá Mai giáp nhau. Làng Giá Mai có đền thờ ông tiến sỹ với tấm biển nổi tiếng lạ đời.Làng Thổ Yên cũng có đền thờ gọi là Đền Ối,hỏi người trông coi đền này thờ ai, ông chỉ nói đúng một câu đền này thờ Bà thiêng lắm. Có lẽ theo suy đoán của Tiều phu nơi đây thờ một nữ tướng thời Bà Triệu vì đền này nằm gần chân núi Nưa.
Chuyện sẽ chẳng có gì đặc biệt nếu như không có chuyện cách đây 15 năm chính tại mảnh đất mà ngôi đền tọa lạc xảy ra một chuyện thật mà như bịa,Tiều phu được nghe chính người trong cuộc kể lại.
Vào thời gian đó trên đoạn đường đi qua ngôi đền khi đi qua có cảm giác khá lạnh lẽo,có người đang đi tự dưng cười lên sằng sặc như bắt được của.Có người thì tự dưng khóc rống lên như nhà đang gặp nạn,hay có trường hợp vừa đi miệng vừa chửi lầm rầm như đang tức một ai đó .Dân làng Thổ Yên rất hoang mang.
Có đền thờ cổ,có chuyện lạ nên gây sự chú ý,một hôm có một tốp người lạ với dụng cụ tìm kim loại mò đến dò tìm và phát hiện có vật lạ dưới lòng đất.Nhưng khi đang đào và phát hiện được một số viên gạch và ngói thì bị người coi đền trông thấy và không cho đào tiếp.Với tinh thần người công dân gương mẫu ông gác đền tức tốc lên báo cáo sự việc cho lãnh đạo Xã.
Sau khi nghiên cứu thực địa rồi kéo nhau về văn phòng hội ý lãnh đạo xã thống nhất : việc này vượt quá khả năng giải quyết của cấp Xã vì thế phải báo lãnh đạo Huyện.Sau khi kiểm tra và đánh giá mức độ bí hiểm củng như tác hại nghiêm trọng của sự việc có thể gây nên lãnh đạo Huyện đã báo lên công an tỉnh xin phương án giải quyết.
Một ngày sau tỉnh điều hai chuyên gia mang các thiết bị dò tìm phát ra tiếng kêu bíp bíp ,đèn xanh,đỏ nháy loạn xạ ,con nít người lớn chạy theo rần rần.Gần hai tiếng đồng hồ khảo sát các chuyên gia thông báo với lãnh đạo: dưới lòng đất có vật thể lạ bằng kim loại có thể đã được chôn giấu từ xa xưa.Vậy là đã rõ thế nhưng nếu xét về tâm linh thì không thể cứ thế mà đào bới lên theo kiểu đào ao hay đào giếng được lỡ đụng phải bùa yểm thì sao?vì vậy phải mời thầy pháp cao tay giải bùa.
Ngày hôm sau có pháp sư đến thật ,sau khi lập đàn ba cấp hương khói mù trời,Pháp sư khoát tay ba vòng ,đạp chân xuống đất ba lần,ngửa mặt lên trời hét lên ba tiếng thầy phán “Ngày xưa khi Bà Triệu tuẫn tiết ở Tùng sơn có giao toàn bộ đồ trang sức của cải cho người hầu mang về núi Nưa cất giấu,nhưng vì bị quân của Lục Dận truy đuổi gắt gao nên chỉ chạy về đến đây thấy có cái hố người hầu đã ném xuống đây rồi bị giết,sau một thời gian dài bị đất bồi lấp toàn bộ số của cải đó đang nằm sâu khoảng 3đến 4m.
À té ra là vậy người trần mắt thịt đâu có nhìn thấy được,có ai ngờ dưới lòng đất bên cạnh ngôi đền bé tẻo teo là nơi cất dấu cả một kho báu ,có Vàng ,Bạc ,châu báu đó là tài sản của Quốc gia phải được thu hồi phục vụ lợi ích chung .Ngay đêm hôm đó một phương án cực kỳ chi tiết và tuyệt mật được công an và chính quyền thông qua .
Công an tỉnh , công an huyện,cùng toàn bộ lực lượng công an viên của xã được huy động canh gác nghiêm ngặt mọi ngã đường dẫn vào trong làng Thổ Yên .Riêng địa điểm đặc biệt nơi khai quật được bố phòng ba lớp bảo vệ ,lực lượng đào bới gồm 4 người nhưng có đến 8 người cầm đèn soi cộng với 16 con mắt theo dõi mọi hành động cử chỉ không lành mạnh sẽ bị phanh phui .Một giờ sáng cuộc đào bới tìm kho báu bắt đầu diễn ra .
Sau hơn một giờ đồng hồ đào xới thì nghe có tiếng kêu lên từ dưới hố “A đây rồi”.chỉ huy đội bảo vệ lao đến hô to “Tắt đèn”.Toàn bộ ánh sáng vụt tắt,các lãnh đạo cùng chỉ huy đội bảo vệ cầm một đèn pin nhỏ xíu bước xuống hố kiểm tra .Sau một hồi thì thầm trao đổi chỉ huy đội bảo một người chạy đi lấy bao tải rồi bí mật bốc một vật gì đó tròn tròn ,dài dài, có vẻ rất nặng bỏ vào bao tải đem ra xe ,tất cả các lãnh đạo Huyện,Xã,lên xe chạy về trụ sở .Chỉ huy đội bảo vệ tập hợp anh em ra chỉ thị tất cả phải tuyệt mật không được để lộ thông tin ,người nào để lọt thông tin ra ngoài sẽ bị kỷ luật , vì vậy chuyện kín như hũ nút dân tình chỉ biết đoán già đoán non.
Một ngày sau bên miệng hố nham nhở đất dân làng thấy một ông lão ngoài 70 tuổi đứng thẩn thờ một lúc sau ông trèo lên xe đạp về trụ sở Xã xin gặp chủ tịch nói chuyện .Khi vào phòng chủ tịch xã chưa kịp mời ngồi ông tuyên bố luôn một cách chắc nịch rằng kho báu đó là thuộc quyền sở hửu của ông . Quá bất ngờ ông chủ tịch hỏi tại sao ông khẳng định như vậy và bằng chứng chứng minh quyền sở hửu của ông.
Ông lão cười ha hả nhe hàm răng đen xỉn màu khói thuốc giọng thủng thẳng “Nói cho lãnh đạo hay mấy chục năm về trước nơi ấy là ngôi nhà tranh vách đất của lão,năm đó có một trận bão rất to trong lúc hối hả tìm dây và cọc để chằng buộc căn nhà lão vớ được hai cái trục xe bò kéo lão đóng xuống đất để lấy chổ néo dây ,sau này lão chuyển nhà sang chân núi lão cũng chẳng thèm đào lên mang theo làm gì ,chứ làm gì có cái kho báu kho biếc ,bảo vật bảo viết gì đâu chỉ là cái trục xe bò mà thôi”.

Không để ông lão nói hết câu chủ tịch kéo ông ngồi xuống thì thầm “Thôi được rồi xin ông nói nhỏ thôi,để tôi bảo cậu bảo vệ mở kho trả cho ông , à mà thôi tối ông ra lấy nhé  được không”. Một chút suy nghĩ ông lão đổi ý “ Thôi ông chủ tịch à, tôi cũng chẳng làm gì với cái cục sắt hoen rỉ ấy ,ông cứ đưa nó vào nhà truyền thống lưu giử làm bảo vật của quê hương”. Nhìn cái miệng ông chủ tịch cười mà như mếu ông lão lại thương cho cái trục xe bò kéo của ông bị người ta mặc cho cái áo kho báu của người xưa.
ĐỀN ỐI NƠI XÃY RA CÂU CHUYỆN KHO BÁU NĂM XƯA